Trường THPT Xuân Lộc

Trường THPT Xuân Lộc - Đồng Nai
 
Trang ChínhTrang Chính  WebsiteWebsite  Tra CứuTra Cứu  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share|

Tổng hợp các đề bài Đất nước

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down
Tác giảThông điệp
ng0k_xit
Tiểu Học
Tiểu Học


Tổng số bài gửi : 6
Birthday : 10/05/1993
Cầm Tinh : Dậu
Age : 24
Ngày nhập học : 31/12/2010

Job/hobbies : doc truyen
Tài Sản Cá Nhân : Du Thuyền

Bài gửiTiêu đề: Tổng hợp các đề bài Đất nước Mon May 09, 2011 5:44 pm

Ôn thi tốt nghiệp nhé! ^^!
đất nước
I.9 câu thơ đầu :Cội nguồn của đất nước
"Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất nước bất đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất nước có từ ngày đó"
1.Đoạn thơ được mở đầu bằng lời tâm sự về cội nguồn sinh thành của đất nước
"Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể
Nhà thơ không nêu lên một điểm mốc thời gian cụ thể nào để nói về nguồn
gốc của đất nước nhưng qua đó tác gải lại thể hiện được cảm xúc ngỡ
ngàng đầu tiên của mỗi người khi tiếp nhận hai tiếng thiêng liêng ấy.
Bằng cách nói tưởng chừng như trừu tượng, Nguyễn Khoa Điềm đã giúp ta
cảm nhận được dòng thời gian đằng đẵng để thấy đất nước được hình thành
từ quá khứ xa xôi. Đất nước còn hiện diện trong những câu chuyện ngày
xửa ngày xưa mẹ thường hay kể
2.Đất nước còn nhập vào cuộc sống hiện tại và gắn liền với những gì
gần gũi, thân thương nhất "Đất nước bất đầu với miếng trầu bây giờ bà
ăn"
Tác giả đã sử dụng những chi tiết, hình ảnh giàu sức gợi để tái hiện
quá trình hình thành của đất nước. Miếng trầu bà ăn thật bình dị, thân
quen nhưng cũng là biểu tượng cho triết lý nhân sinh sâu sắc của người
VIệt, miếng trầu là biểu tượng cho tình nghĩa thủy chung của vợ chồng,
của anh em. Hình ảnh miếng trầu gợi ta nhớ đến sự tích trầu cau chứa
đựng những ý nghĩa sâu xa

"Tách riêng thì đắng thì cay
Hòa chung thì ngọt thì say lòng người
Tách riêng xanh lá bạc vôi
Hòa chung thắm đỏ máu người lạ chưa
Chuyện tình ngày xửa ngày xưa…"
Đồng thời miếng trầu còn là biểu hiện cho vẻ đẹp
của thuần phong mĩ tục, cho bản sắc riêng của một dân tộc trọng tình
nghĩa hơn của cải vật chất "Miếng trầu là đầu câu chuyện"
3.Bên cạnh đó hình ảnh cây tre cũng gợi những truyền thuyết xa xưa:"
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc". đọc câu
thơ ta lại nhớ đến cậu bé làng Gióng vươn vai lớn lên thành tráng sĩ
"Nhổ bụi tre ngà đuổi giặc Ân"
(Tố Hữu)
Truyền thuyết xa xưa ấy thể hiện trọn vẹn tinh thần bất khuất, khát vọng
tự do của một dân tộc và sự trưởng thành của một dân tộc biết cầm vũ
khí để đấu tranh giành độc lập tự do
4.Đất nước còn hiện diện trong những sự vật bình thường thân thuộc trong cuộc sống quanh ta
"Tóc mẹ bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn"
Đất nước đã có trong câu chuyện của mẹ, miếng trầu của bà, có trong
tình nghĩa đằm thắm của mẹ của cha, thậm chí chỉ một búi tóc sau đầu của
mẹ cũng ẩn chứa linh hồn dân tộc bởi lẽ đây là quan niệm thẩm mĩ mang
bản sắc dân tộc. Đất nước còn hiện diện trong nghĩa tình tưởng chừng
gảin đơn, thủy chung, son sắt của cha với mẹ "gừng cay muối mặn" gợi
liên tưởng đến câu ca dao chứa đựng niềm hạnh phúc ngọt ngào đầm ấm, bất
chấp những gian khổ nhọc nhằn như

"Tay bưng chén muối đĩa gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau"
5.Không chỉ khám phá cội nguồn của đất nước , Nguyễn Khoa Điềm còn
khiến người đọc cảm nhận về công lao vĩ đại của nhân dân trên hành trình
dựng nước và giữ nước
"Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng"
Đất nước được dựng nên từ trí tuệ, tâm huyết và đôi bàn tay cần cù,
khóe léo của nhân dân. Bằng đôi bàn tay cần mẫn tài hoa họ đã dựng lên
những ngôi nhà che mưa che nắng, dựng lên tổ ấm cho mình, đó cũng là
khởi đầu cho không gian sống đầu tiên của đất nước. Cách nói này còn
gợi cho người ta sự hình thành và phát triển ngôn ngữ khi con người biết
đặt tên cho những sự vật xung quanh.
Đặc biệt hình ảnh hạt gạo " một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng" đã
gợi lên cả một quá trình lao động bền bỉ và đầy sáng tạo của nhân dân.
Thành ngữ "một nắng hai sương" diến tả những nhọc nhằn gian khổ của một
dân tộc sinh sống bằng nghề trồng lúa nước. Những động từ "xay, giã,
giần, sàng" gợi lại những vất vả gian nan và ca ngợi cả nét tài hoa tinh
tế của người lao động Việt Nam. Chẳng biết qua bao thế hệ và trí tuệ
của bao người mới có thể biến hạt gạo thành hạt thóc trắng ngần nuôi
dưỡng chúng ta. Chỉ cần nhìn lại những vật dụng và quá trình làm ra hạt
gạo, ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp bình dị mà vĩ đại của nhân dân. Có
thể nói rằng mỗi dòng thơ đều gợi lên những công lao to lớn của nhân
dân, bằng chính cuộc sống của mình, họ đã góp phần tạo lập và gìn giữ
đất nước cho những thế hệ sau .
6. Đoạn thơ kết thúc bằng lời khẳng định "Đất nước có từ ngày đó". Cách nói tưởng như vô hình nhưng lại mở ra cả một trường liên tưởng.
"ngày đó" là thời gian bao quát, là ngày mở đầu để hình thành nên đất
nước. Không ai biết "ngày đó" bắt đầu từ bao giờ, chỉ biết rằng có từ
rất xa xưa. Song có một điều rất rõ, trên hành trình của mấy ngàn năm
lịch sử ấy, đất nước đã được tạo lập giữ gìn nhờ chính những những
người bình thường. họ không để lại tên tuổi, nhưng bằng chính cuộc sống
thầm lặng và sức lao động của mình họ đã dựng lên quê hương xứ sở
II.20 câu tiếp theo :Định nghĩa đất nước
"Đất là nơi em đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất nước là nơi ta hẹn hò
Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Đất là nơi "con chim phượng hòang bay về hòn núi bạc"
Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"
Thời gian đằng đẵng
Không gian mênh mông
Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ
Đất là nơi chim về
Nước là nơi rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ"
1.4 câu đầu
Không chỉ tìm về cội nguồn hình thành của đất nước, nhà thơ còn muốn nêu lên định nhĩa về hai tiếng thiêng liêng ấy
"Đất là nơi em đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất nước là nơi ta hẹn hò
Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm"
Hai tiếng "đất nước" khi thì được tách riêng, khi thfi được hợp lại
nhưng đều gắn liền với không gian riêng tư gần gũi của mõi người. Đất
nước không phải là một biên giới xa xôi trừu tượng, không phải là một
cái gì đó vô hình, trái lại, đất nước hiện hữu ngay bên cạnh chúng ta,
tồn tại nagy trong trái tim mỗi người. Đất nước là con đường nơi anh
đến trường, nước là nơi em tắm táp nô đùa, cũng lòa nơi nảy sinh tình
cảm ngọt ngào trong trắng của tuổi thanh xuân
Đất nước còn hiện hữu trong mảnh đất dưới chân người thiếu nữ khi cô
đánh rơi chiếc khăn tay trong nỗi nhớ nhung da diết. Nguyễn Khoa Điềm
đã rất khéo léo khi sử dụng chất liệu văn hóa dân gian
"Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất"
Từ cách sử dụng đó tác giả đã thể hiện tình yêu thương gắn bó với quê hương xứ sở
Có thể nói Nguyễn Khoa Điềm đã bộc lộ một cách nhin sâu sắc mới mẻ về
đất nước bởi lẽ tình cảm thiêng liêng lớn lao ấy nhất thiết phải được
hình thành từ những gì gần gũi thân thương nhất trong tâm hồn mỗi người,
một nhà gáio dục nổi tiếng người Nga đã nói "Muốn dạy cho một đứa trẻ
tình yêu đất nước thì trước hết hãy dạy cho nó biết yêu các bậu cửa nhà
mình"
2. Đất nước không chỉ gắn với những kỉ niệm riêng của mỗi người mà đất nước còn là tài sản vô giá của cả dân tộc
"Đất là nơi "con chim phượng hòang bay về hòn núi bạc"
Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"
Thời gian đằng đẵng
Không gian mênh mông
Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ"
Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng nhiều chất liệu của thần thoại, truyền
thuyết để tái hiện sự hình thành không gian đất nước. Để có được không
gian ấy phải trải qua thời gian đằng đẵng với bao nhiêu công sức thế hệ
con người, họ đã tạo nên nơi sinh tụ cộng đồng dân tộc. như vậy đất
nước vừa là cái gì đó nhỏ bé riêng tư của mỗi người lại vừa lớn lao của
dân tộc.
3.4 câu tiếp theo
Nhà thơ đã sử dụng một cách sáng tạo truyền thuyền "con rồng cháu tiên " để gợi lại nguồn gốc cao quý của dân tộc
"Đất là nơi chim về
Nước là nơi rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng"
Câu thơ gợi lại niềm tự hào kiêu hãnh về nguồn gốc "con rồng cháu tiên"
đó cũng là cưo sở để hình thành nên tình đồng bào thiêng liêng bền vững
4.7 câu cuối
Từ nguồn gốc cao quý của dân tộc, tác giả đã gợi lại công sức của bao thế hệ con người
"Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ"
Điệp khúc "những ai" trở đi trở lại trên các dòng thơ đã làm sống dậy
hình ảnh của mấy ngàn lớp người không tiếc mồ hôi xương máu để tạo dựng
và gìn giữ nước non này. Hệ thống từ ngữ chỉ thời gian "đã khuất", "bây
giờ", "mai sau" được nhà thơ sử dụng để nối liền quá khứ, hiện tại,
tương lai. Đóa là tình yêu và trách nhiêm của mỗi người đối với quê
hương đất nước. Họ đã đón nhận và gìn giữ những gì của thế hệ đi trước
để lại, và họ đã sáng tạo và hoàn thiện để lại cho thế hệ mai sau. Trong
đó điều hệ trọng thiêng liêng nhất chính là tình cảm cội nguồn
"Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ"
Hai dòng thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã mượn ý tứ của câu ca dao xưa
"Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba
Dù ai buôn bán gần xa
Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười"
Chỉ một câu ca dao cũng đủ nói lên sự gắn bó máu thịt của người Việt với
quê hương đất nước . dù có bộn bề công việc, dù có ngược xuôi nơi nào,
họ cũng luôn hướng vè cội nguồn, miền đất tổ linh thiêng đã trở thành
biểu tượng, thành linh hồn của đất nước

III.13 câu tiếp theo : tình yêu trách nhiệm đối với quê hương đất nước
"Trong anh và trong em hôm nay
Đều có một phần đất nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất nước vẹn tròn to lớn
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang đất nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
Em ơi em đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời"
1.4 câu đầu
Từ cảm nhận về cội nguồn đất nước, Nguyễn Khoa Điềm đã dẫn dắt
người đọc đến một đinh nghĩa khái quát và sâu sắc : đất nước là sự hào
quyện giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và cộng đồng
"Trong anh và trong em hôm nay
Đều có một phần đất nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm"
Tác giả đã khẳng đinh mối quan hệ hai chiều giữa con người và đất nước.
Đất cn hiện diện ngay trong cuộc sống của mỗi người , gắn liền với
những tình cảm riêng tư nhất. Ngược lại mỗi con người cũng bằng chính
cuộc sống của mình đã góp phần tạo dựng và giữ gìn quê hương đất nước .
Cho nên khi hai đứa "cầm tay" thì đất nước đã hòa quyện cùng tình yêu
lứa đôi hài hó nồng thắm.
2. 2 câu tiếp
.Đất nước còn hiện diện trong khoảnh khắc
"Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất nước vẹn tròn to lớn"
Đó là cảm giác ấm áp khi mỗi cá nhân được hào quyện vào cuộc đời chung.
Khi đó đất nước vẹn tròn to lớn với tình đồng bào, tình dân tộc bền
chắc thiêng liêng.
3 .3 câu tiếp.
Chính vì vậy đất nước là tài sản vô giá mà mỗi con người phải có trách nhiêmh truyền lại cho các thế hệ mai sau
"Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang đất nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng"
Câu thơ chứa đựng niềm tin vào một tương lai tươi sáng đẹp đẽ. Hình ảnh
"con ta" không chỉ gắn liền với hạnh phúc lứa đôi mà còn là biểu tượng
cho ngày mai của quê hương xứ sở, nagy trong hiện tại đất nước còn chìm
ngập trong máu lửa đau thương nhưng tác giả vẫn hướng về một ngày mai
tươi sáng.
4. Từ những suy nghĩ ấy, nhà thơ đã nhắc nhở với mọi người gìn giữ và
bảo vệ tổ quốc, làm bổn phận thiêng liêng của mỗi con người
"Em ơi em đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời"
Tác giả đã mượn lời tâm sự của một người yêu nói với người yêu để khẳng
định trách nhiệm của mỗi người với quê hương đất nước. Đất nước là
máu thịt, là cuộc đời, là tổ ấm của chính mình nên sự hiến dâng kia là
tất yếu. cũng với lời tâm tình tha thiết nhà thơ đã mở đầu những dòng
thơ bằng lời kêu gọi thức tỉnh lơng tri của những người Việt Nam chân
chính
IV.12 câu tiếp theo :cảm nhận Đất nước ở phương diện không gian địa lý, tư tưởng đất nước của nhân dân
"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thành Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng lên đất tổ hùng vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho nước mình núi Bút, non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…"
Từ xưa đến nay, đất nước đã soi bóng vào biết bao nhêu sáng tác của các
nhà văn nhà thơ: Xuân diệu đã viết về đất nước như một con tàu xé sóng
ra khơi

"Tổ quốc tôi như một con tàu
Mũi thuyền xé sóng mũi Cà Mau"
Nhà thơ Chế Lan Viên cũng từng viết về đất nước đầy tự hào
"Tâm hồn tôi khi tổ quốc soi vào
Như ngàn núi trăm sông diễm lệ"
Nhưng có lẽ chưa có ai có cái nhìn bao quát và sâu rộng về đất nước như Nguyễn Khoa Điềm
1.4 câu đầu
Từ xưa đến nay, không gian địa lý vẫn được coi là yếu tố vật chất,
cho nên nói đến phương diện này người ta thường nghĩ đến bàn tay cảy tạo
hóa, còn ở đây Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến một cái nhìn độc đáo mới mẻ
"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thành Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng lên đất tổ hùng vương"
Tác giả đã liệt kê những đại danh thắng cảnh nổi tiếng của đất nước
nhưng không phải để ngợi ca thiên nhiên hào phóng mà hướng tới khẳng
định công lao vĩ đại của nhân dân. Điệp từ "góp cho" biến mỗi câu thơ
thành một lời khẳng định về những vai trò to lớn của con người nhỏ bé
bình dị. chính họ bằng tình yêu và nỗi đau, nghị lực và sức sáng tạo của
mình đã alfm nên linh hồn cho núi sông bờ cõi.
Đó là bao nhiêu thế hệ phụ nữ từng nhớ thương chờ đợi, từng chung thủy
tha thiết đã góp cho đất nước những núi Vọng Phu. Bởi lẽ nếu không có
tình yêu của họ thì núi mãi mãi chỉ là núi đá, vô tri vô giác chứ đâu
phải là nhgf hòn Vọng Phu vòi vọi ngắm trông. Cũng như phải có nghĩa
tình đằm thắm của những cặp vợ chồng yêu nhau thì mới có những đôi trống
mái điểm tô cho không gian đất nước. Chính ánh mắt của những con người
tràn đầy niềm tin vào hạnh phúc, vào sức mạnh của yêu thương đã phát
hiện và góp cho đất nước những biểu tượng ngọt ngào kia.
Không chỉ thế trí tưởng tượng phong phú và tinh thần tự hào dân tộc còn
sáng tạo nên những truyền thuyết cho từng mảnh đất trở nên thiêng liêng
vô giá. Những ao hồ không còn là sản phẩm của tự nhiên mà đã in dấu vết
chân ngựa của người anh hùng làng Gióng. Đó là chứng tích của những
truyền thống bất khuất, khát vọng tự do.
Có thể nói rằng chính những con người bình dị "vô danh như cát", "Sống
trong cát, chết vùi trong cát-Những trái tim như ngọc sáng ngời" (Tố
Hữu) đã góp cho đất nước không phải những chiến công hiển hách mà bằng
chính cuộc sống tâm hồn phong phú, bằng sự hi sinh thầm lặng của mình.
Chính nhân dân qua bao thế hệ đã bằng xương máu của mình mà đặt tên cho
hình sông thế núi, tạo nên một đất nước đằm thắm nghĩa tình thủy chung.
Đất nước có khi hiện hình trong đau buồn với những núi Vọng Phu, đất
nước đằm thắm nghĩa tình ở hòn Trống Mái , đất nước trỗi dậy thành
những nét kì vĩ nơi gót ngựa thành gióng đi qua để lại…Từ điểm nhìn từ
thiên nhiên kì thú, Nguyễn Khoa Điềm đã dạy cho ta cách "cảm" để yêu
thêm vẻ đẹp của đất nước muôn đời .
2.4 câu tiếp
Công lao vĩ đại của người dân còn được phản chiếu qua mọi chiều không gian địa lý này
"Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho nước mình núi Bút, non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm"
Không gian được mở rộng tới vô cùng vô tận và ở nơi nào nhà thơ cũng chỉ
cho ta thấy bằng chứng về sức sáng tạo của nhân dân. Qua cái nhìn của
họ, những dòng sông hóa thành nguồn sống bồi đắp nên bờ bãi ruộng đồng
phì nhiêu. Đến những người hcoj trò nghèo cũng góp cho quê hương những
núi Bút non Nghiên bằng ước mơ khát vọng của mình.
Đặc biệt Nguyễn Khoa Điềm liệt kê hàng loạt những đại danh mang sắc thái
riêng của miền Nam để lần nữa khẳng định vai tò to lớn của nhân dân tên
hành trình dựng nước giữ nước : Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm.
Phải chăng đso là những người đầu tiên có công khai phá để đất đai hoang
vu thành đồng ruộng xóm thôn. Có thể họ đã xa khuất từ bao giờ nhưng
tên tuổi của họ đã làm nên linh hồn cho những miền quê ấy.
Những tầng tầng lớp lớp đại danh được bày biện trên trang giấy, chỉ thế
thôi cũng đã tái hiện được một Việt Nam đẹp đẽ, dải đất "hình tia chớp"
mà đi đâu ta cũng thấy biết bao nhiêu danh lam thắng cảnh. Bằng bút pháp
liệt kê Nguyễn Khoa Điềm đã dẫn dắt người đọc đi khắp chiều dài đất
nước từ Bắc xuống Nam, từ rừng xuống biển. Mọi nơi trên đất nước , từ
tên đất, tên sông, tên núi, tên gò bãi…đều có sự góp phần của những
người "không ai nhớ mặt đặt tên" những chính họ đã "gắn bó và san sẻ",
đã "hóa thân cho dáng hình xứ sở", để tên người đã hóa thành tên của
đất
3. 4 câu cuối
Từ hệ thống dẫn chứng đầy sức thuyết phục ấy, Nguyễn Khoa Điềm đã khái quát một chân lý
"Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…"
Đoạn thơ có sự hòa quyện giữa chất tữ tình đằm thắm tha thiết và chất
chính luận sắc sảo. nó không chỉ mang đến một cách nhìn độc đáo về núi
sông rừng biển mà còn đánh thức trong tâm hồn mỗi con người tình yêu quê
hương xứ sở, lòng biết ơn đối với ông cha bởi lẽ nơi nào cũng in đậm
dấu ấn của mấy nghìn thế hệ đi trước . mỗi dòng sông con suối, mỗi dáng
núi hay bờ bãi ruộng đồng đều có phần máu thịt của người xưa. Họ đã khai
phá đất đai bằng đôi abfn aty cần mẫn. Họ đã mang tất cả tình yêu dồn
cho đất đai sông núi để truyền lại cho các thế hệ sau không gian địa lý
phong phú, đẹp đẽ này. Chính vì vậy mỗi tấc đất là thiêng liêng vô giá.
Chính nhân dân đã tạo đựng nên đất nước này, đã đặt tên đã ghi dấu ấn
của cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, con sông, tấc đất. nhưng không phải
cũng có thể lắng nghe và cảm hiểu được linh hồn của đất đá vô tri, không
phải bất cứ ai cũng nhìn thất những bóng dáng cuộc đời của nhân dân
trong hình sông thế núi. Vì thế vẻ đẹp của đoạn thơ được làm nên từ vẻ
đẹp của một tâm hồn lịch lãm , sâu sắc của một thi sĩ nhìn đất nước
bằng sự tải nghiệm, tấm tình sâu nặng đối với nhân dân vô danh.

V.26 câu tiếp theo :Đất nước ở phương diện lịch sử
Khi tái hiện lịch sử, nhiều nhà văn nhà
thơ khác thường nhắc tới những triều đại vàng son,những vĩ nhân được lưu
danh trong sử sách. Trong bình ngô đại cáo, Nguyễn Trãi từng tạ hào
khẳng định :"Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền độc lập - Cùng hán
Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương". Nhà thơ Chế Lan Viên cũng
từng dặt câu hỏi :"Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?" và cũng tự trả
lời
"Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nuyễn Du viết Kiều và đất nước hóa thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa bắc
Hưng đạo đại vương diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng"
1.5 câu đầu
Còn ở đây, Nguyễn Khoa Điềm muồn hướng người đọc đến một đối tượng khác
"Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
Vào bốn nghìn năm đất nước
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái con trai bằng tuổi chúng ta"
Tác giả muốn hướng người đọc đến những con người không trực tiếp hiện
diện thậm chí có vẻ lặng lẽ trên hành trình mấy ngàn năm dựng nước
nhưng chính họ đã sáng tạo nên lịch sử của đất nước. Trong mấy ngàn lớp
người nối tiếp nhau không dứt ấy, tác giả "Đất nước" đặc biệt đề cao
thế hệ trẻ vì chính họ là tương lai của đất nước. Họ gánh phần người đi
trước để lại, tiếp nối phát huy truyền thống của cha anh để rồi họ giữ
gìn và truyền lại cho các thế hệ sau.
2. 4 câu tiếp theo
Bằng cách nói giản dị dân dã, Nguyễn Khoa Điềm đã khám phá và khẳng
định đóng góp to lớn của những con người bình thường lặng lẽ
"Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh"
Với đôi bàn tay cần cú nhẫn nại, họ đã khai phá đất đai, mở mang bờ cõi,
tạo nên ruộng đồng bờ bãi xóm thôn. Không chỉ dựng nước họ còn góp
xương máu để giữ gìn bảo vệ tổ quốc. Họ tự nguyện đảm đương xứ mệnh
thiêng liêng một cách tự nguyện như thể đó là điều tất yếu. những người
con trai cầm vũ khí ra trận bảo vệ quê hương xứ sở, những người vợ
những người mẹ vượt lên nỗi đau, nỗi cô đươn thương nhớ âu lo để đảm
đang, gánh vác trọn vẹn việc nhà
Đặc biệt tác giả đã nhấn mạnh một truyền thống quý báu của người phụ nữ
Việt Nam :đó tinh thần bất khuất kiên cường :"Ngày giặc đến nhà thì
đàn bà cũng đánh". Lời thơ như gợi lại vóc dáng của Bà Trưng Bà Triệu và
anh hùng liệt nữ đã làm nên những trang sử hào hùng cho dân tộc.
3.9 câu tiếp
Chính vì vậy khi nhớ về quá khứ, Nguyễn Khoa Điềm đã làm sống dậy hình ảnh của mấy ngàn lớp người vô danh
"Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều người anh hùng cả anh và em đều nhớ
Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái con tải
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm nên đất nước "
Nhà thơ không nhắc lại tên tuổi của những vĩ nhân thường được lưu danh
trong sử sách bởi lẽ đó là những anh hùng mọi người đều biết, công lao
của những vĩ nhân ấy đã được ca ngợi tôn thờ. ở đây Nguyễn Khoa Điềm
muốn tô đậm tầm vóc lớn lao phi thường của những con người nhỏ bé, bình
thường. Họ chính là nhân dân, là bốn nghìn lớp người chính bằng cuộc
sống của mình đã làm nên đất nước
Trong chính những câu thơ này, Nguyễn Khoa Điềm đã phát hiện nét đẹp đặc
trưng của tâm hồn họ :Đó là sự giản dị, hi sinh thầm lặng, nhân dân
không ồn ào phô trương, không tô vẽ cho mình. Nhưng chính điều đó khiến
nhân dân trở nên to lớn vĩ đại. Thế hệ này nối tiếp thế hệ kia. Họ lặng
lẽ tạo dựng và gìn giữ cho ta tài sản vô gái này. Vẻ đẹp thầm lặng bình
dị này của nhân dân cũng đã được nhà thơ Nguyễn Duy ca ngợi
"Và vì thế nhân dân thường ít nói
Như mẹ tôi lặng lẽ suốt đời
Và như thế nhân dân cao vòi vọi
Hơn những ngôi sao trơ trọi cuối trời"
4. 8 câu cuối
Công lao vĩ đại của nhan dân sẽ được nhà thơ chứng minh bằng hàng loạt dẫn chứng cụ thể, giàu sức thuyết phục
"Họ giữ và truyền cho ta hạt lúata trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từhòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên làng tên xã trong mỗi chuyến di dân
Họ dắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để đất nước này là đất nước nhân dân"
Không phải ngẫu nhiên mà tất cả các dòng thơđều bắt đầu bằng điệp từ
"họ". Bằng cách nói này Nguyễn Khoa Điềm lại một lần nữa khắc sâu ấn
tượng về vai trò không thể thiếu của nhân dân. Nhân dân không chỉ làm
nên lịch sử mà còn sáng tạo mội giá trị vật chất, tinh thần cho đất
nước
Điệp khúc "truyền cho" gợi liên tưởng đến một cuộc tiếp sức vĩ đại trên
hành trình mấy ngàn năm lịch sử đằng đẵng. bằng hệ thồng hình ảnh giàu ý
nghĩa ẩn dụ sâu xa,tác giả đã khám phá và ngợi ca công lao vĩ đại của
nhân dân. Đó là hình ảnh "hạt gạo" bé nhỏ bình thường nhưng đã kết tinh
sức lực, tâm huyết trí tuệ của bao nhiêu thế hệ con người. Ai đã là
người tìm ra cây lúa giữa hàng ngàn loài cây hoang dại khác?. Ai là
người đã tìm ra cách gieo cấy vun trồng để có được vụ mùa đầu tiên? Và
ai đã rìm ra cách xay giã giần sàng biến hạt lúa kia thành hạt gạo trắng
ngần. Hành trình ấy đòi hỏi phải có sự tiếp nối của nhiều thế hệ, người
đi trước tích lũy kinh nghiệm và truyền lại, người đi sau đón nhận,
sáng tạo và hoàn thiện..
Nhân dân giữ gìn và truyền cho ta ngọn lửa. Đó là ngọn lửa được thắp lên
cho mỗi ngôi nhà, ngọn lửa mang theo hơi ấm và sự sống cho con người.
Song đó cũng là ngọn lửa biểu tựng cho tình cảm cộng đồng ấm áp "tối lửa
tắt đèn có nhau" của người Việt
Song có lẽ công lao vĩ đại nhất của nhân dân chính là sự gìn giữ và bảo
tồn tiếng mẹ đẻ, linh hồn của dân tộc. Chiến công phi thường ấy được nhà
thơ thể hiện bằng hình ảnh rất đôic thân quen, bình dị "Họ truyền giọng
điệu mình cho con tập nói. Đó là hình ảnh những người cha người mẹ dạy
con mình bập bẹ ngh tiếng nói đầu tiên. Bằng hình ảnh tưởng chừng như
chẳng có gì đáng kể ấy, họ đã gìn giữ tiếng mẹ đẻ từ thế hệ này sang thế
hệ khác. Phải nhìn về quá khứ mới nhing thấy hết công lao của nhân dân
:1000 năm bấc thuộc, 100 năm Pháp thuộc, kẻ thù tìm mọi cách để đồng
hóa, để xóa đi bản sắc riêng của dân tộc này. Vậy mà ông cah ta vẫn gìn
giữ vẹn nguyên tiếng Việt.
Cội nguồn để tạo nên sức mạnh kì diệu ấy chính là tình yêu thắm thiết
sâu nặng dành cho quê hương xứ sở. Khi khai pahs những vùng đất mới, họ
không chỉ gánh trên vai những vật dụng thiết yếu cho cuộc sống hàng
ngày mà còn mang theo cả tên làng, tên xã, tình quyến luyến với quê
hương, thủy chung với cội nguồn và cũng là truyền thống của người Việt
Bằng sức mạnh của tình yêu đất nước, nhân dân đã tạo nên không gian địa
lý, khai phá ruộng đồng cho các thế hệ sau "trồng cây hái trái". Câu
thơ đã tái hiện lại bao nhiêu thế hệ đã đổ mồ hôi, góp công sức cho
những dải đê điều, mương máng bao quanh những xóm làng bưof bãi.
Không chỉ tạo dựng ruộng đồng, núi sông, bờ cõi, gìn giữ những truyền
thống đạo đức, nhân dân còn góp phần vào sự nghiệp giữ nước
"Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để đất nước này là đất nước nhân dân"
Tác giả đã khái quát và ngợi ca lịch sử hào hùng của một dân tộc trên
suốt hành trình dựng nước và giữ nước. Dân tộc ấy chưa bao giờ chịu
cúi đầu khuất phục trước bất kỳ thế lực nào. Nhân dân không chỉ đánh
đuổi ngoại xâm để giành lấy tự do mà còn tiêu diệt nội thù để đất nước
hòa bình, thống nhất. nhân dân đã tạo lập và truyền lại cho ta đất nước
của nhân dân hiền hòa, bình dị mà anh hùng, quật cường như nhà thơ Huy
Cận từng ca ngợi
"Sống vững chãi 4000 năm sừng sững
Lưng đeo gươm tay miệt mài bút hoa
Trong lạ thực sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái, chan hòa"

IV.9 câu cuối :Cảm nhận đất nước về bề sâu văn hóa
"Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết yêu em từ thưở trong nôi
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre mà đợi ngày thành gậy
Đi trả thù không sợ dài lâu
Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về đất nước mình bắt lên câu hát
Người đến hát chèo đò vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi"
1.Câu đầu tiên
Tư tưởng đất nước của nhân dâncòn được tác giả khắc họa rõ nét trong đoạn thơ cuôi
"Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại"
Dòng thơ đầu tiên được ngắt thành hai vế, mỗi vế là một lời khẳng định
về bản sắc riêng của nước Việt. Đó là đất nước của nhân dân, do nhân
dân tạo lập, gìn giữ. Đó cũng là nước Việt của ca dao thần thoại. không
phải ngẫu nhiên tác giả nhắc tới 2 thể loại tiêu biểu nhất của văn học
dân gian. Thần thoại thể hiện cuộc sống qua trí tưởng tượng bay bổng của
nhân dân. Còn ca dao bộc lộ thế giới tâm hồn của nhân dân với tình yêu
thương, với sự lãng mạn cùng với tinh thần lạc quan. Đó là những tác
phẩm do nhân dân sáng tạo, lưu truyền và có khả năng phản chiếu tâm hồn,
bản sắc dân tộc
2.4 câu tiếp
Cho nên Nguyễn Khoa Điềm đã mượn ý tứ của những câu ca dao quen
thuộc để khám phá nhiều nắt đặc trưng trong tính cách, tâm hồn người
Việt
" Dạy anh biết yêu em từ thưở trong nôi
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre mà đợi ngày thành gậy
Đi trả thù không sợ dài lâu"
Nhân dân dạy ta biết yêu thương lãng mạn, đắm say thủy chung với những câu ca

"Yêu em từ thưở trong nôi
Em nằm em khóc anh ngồi anh ru"
Đây là phát hiện mới của Nguyễn Khoa Điềm. Bởi lẽ
từ xưa đến nay nói đến nhân dân ng ta thường nghĩ đến những phẩm chất
cần cù chịu khó, bất khuất kiên cường. còn ở đây tác giả lại ngợi ca vẻ
đẹp trẻ trung lãng mạn trong tình yêu, những mối tình từ thưở ấu thơ, từ
thời "thanh mai trúc mã"
Nhân dân gìn giữ và truyền lại cho ta quan niệm sống đẹp đẽ, sâu sắc
:"Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội". Nhà thơ đã mượn ý tứ câu
ca dao "Cầm vàng mà lội qua sông - Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm
vàng" để ngợi ca truyền thống trọng tình nghĩa của ông cha ta. Dẫu phải
sống trong cuộc sống triền miên khó khăn, nhọc nhằn, thiếu thốn nhưng
nhân dân vẫn đề cao tình nghĩa hơn của cải vật chất
Nói đến bản sắc riêng của tâm hồn dân tộc không thể không nói đến sự bền bỉ phi thường trong chiến đấu
"Biết trồng tre mà đợi ngày thành gậy
Đi trả thù không sợ dài lâu"
Hai câu thơ đã gợi lại biết bao cuộc kháng chiến giữ nước trường kì của
nhân dân từ thưở lập nước, ông cha ta đã luôn phải đương đầu với nạn
ngoại xâm. Cuộc chiến đấu giành độc lập tự do nào cũng kéo dài hàng chục
năm, hàng trăm năm. Sau cả nghìn năm bắc thuộc nhân dân vẫn đứng lên
giành chủ quyền, 10 năm chống Minh, 80 năm chống Pháp, 30 năm chống
Pháp-Mĩ…thử hỏi nếu không có sự kiên trì bền bỉ và khát vọng tự do mãnh
liệt, dân tộc bé nhỏ này làm sao có thể vượt qua bao nhiêu khó khăn gian
khổ, mất mát hi sinh.
3.4 câu cuối
Từ niềm tự hào về nhân dân tác giả đã thể hiện niềm tin vào một tương lai tươi sáng, thanh bình cho đất nước
" Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về đất nước mình bắt lên câu hát
Người đến hát chèo đò vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi"
Nghệ thuật đối lập ở hai câu đầu cho thấy tâm hồn lãng mạn, yêu ca hát
của người Việt. dòng sông trước khi vào nước mình chỉ đơn thuần là bắt
nước còn khi vào đến nước mình thì dòng sông ấy bắt lên câu hát. Câu
thơ gợi cho ta nhớ đến những điệu hò hùng tráng trên sông Mã, ca Huế
ngọt ngào trên sông Hương và điệu hò kéo lưới mạnh mẽ ở miền trung, hay
đờn ca tài tử tha thiết ở miền Nam. Sự tương phản giữa hai hình ảnh
"chèo đò, kéo thuyền vượt thác" và "câu hát" đã ca ngợi tinh thần lạc
quan bất diệt của dân tộc. cuộc sống dẫu còn nhiều khó khăn gian khổ
nhưng nhân dân chưa bao giờ mất niềm tin và hi vọng. hình ảnh dòng sông
bắt lên câu hát gợi "trăm màu" đã ẩn dụ cho một ngày mai tươi sáng cho
quê hơng đất nước.


Phân tích và so sánh hình tượng đất nước trong
đoạn trích Đất nước (trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa
Điềm) và bài thơ đất nước của Nguyễn Đình Thi.

Cảm hứng về đất nước là ngùôn cảm hứng lơn, xuyên suốt trong thơ ca Việt
Nam. Có rất nhiều trường h ợp cảm hứng đất nước quyện chặt với cảm hứng
của nhân dân. Nhưng có điều cách nhìn và cảm xúc đất nước và nhân dân ở
mỗi tác phẩm đặc sắc đều không lặp lại, nó mang đậm dấu ấn của thời đại
và cảm xúc của nhà thơ. Đoạn thơ Đất nước (trích trường ca Mặt đường
khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm là một thành công xuất sắc trên phương
diện cảm hứng về đất nước của thơ ca thời kháng chiến chống Mỹ.
Gần cuối đoạn thơ tác giả có viết... “Đất Nước này là Đất Nước của Nhân
dân - Đất Nước của Nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại”. Có thể nói
hai câu thơ đã thể hiện được tư tưởng và cảm hứng chủ đạo của nhà thơ -
Cảm hứng đất nước của nhân dân. Căn cứ vào đâu mà ta nói như thế ? Và
tư tưởng, cảm hứng ấy thể hiện cụ thể ở những phương diện nào?
Thơ tự do có khả năng chuyển tải tài cảm nhiều nhất, phóng túng nhất,
chân thành, tha thiết nhât. Đoạn thơ Đất nước được tác giả viết theo
kiểu ấy nên dễ truyền cảm hứng cho người đọc, dễ lay động những điều
thầm kín nhất của lòng người. Đoạn thơ lập luận chặt chẽ, lô gích, thể
hiện cảm hứng chủ đạo trên ba bình diện. Đó là cảm hứng về chiều dài
thời gian – lịch sử, ciều rộng không gian-địa lý và trong chiều sâu của
văn hoá phong tục, của lối sống thể hiện tâm hồn và tính cách dân tộc.
Trên mỗi bình diện, tác giả đã thể hiện một cách sâu sắc tư tưởng cốt
lõi “Đất Nước Nhân dân”.
Để diễn đạt sự hình thành đất nước trong chiều sâu lịch sử, nhà thơ
không dùng những sử liệu, mà bằng những gì thân thuộc nhất trong đời
sống của nhân dân:
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Nhận thức về đát nước bốn nghìn năm đã trở nên thật cụ thể, sống động, gần gũi.
Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó.
Làm nên đất nước bốn nghìn năm chính là những con người bình dị đso là
nhân dân vô tận. Vì vậy khi nhớ đến “thời gian đằng đẵng” của lịch sử
đất nước, tác giả không chỉ nhớ đến anh ùng có tên tủôi mà nhấn mạn đến
những con người bình dị:
Có biết bao người con gái con trai
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.
Nhân dân đã tạo dựng nên giá trị vật chất và tinh thần và truyền sang các thế hệ:
Họ giữ và truyền lại cho ta hạt lúa ta trồng
Họ truyền lửa qua mỗi nhà từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói.
Họ cũng là những người đem xương máu giữ gìn non sông đất nước:
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Cùng với thời gian “đằng đẵng” đất nước còn là không gian mênh mông, đó
là non sông gấm vóc, là rừng biển quê hương. Tất cả được dựng lên từ mồ
hôi, máu thịt của bao lớp người. Từ quan niệm đất nước của nhân dân, tác
giả đã có cái nhìn mới mẻ, có chiều sâu về những phong cảnh thiên
nhiên.
Từ những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp cho Đất Nước Hòn Trống Mái
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước núi Bút non Nghiên
Điều đáng quý là tác giả đã phát hiện trong những địa danh bình dị ở mọi
miền đất nước để ẩn giấu chứa đựng cuộc đời của người dân
Những ngừoi dân nào đã góp tên ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm
Với những phát hiện trên, tác giả đã đi đến một cảm nhận thấm thía:
Ôi đất nước bốn nghìn năm sau đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta.
Đất nước còn là chiều sâu văn hoá, phong tục của tâm hồn tính cách dân
tộc Việt Nam. Thật ra cách nói thế này không phải là mới, trong Bình Ngô
đại cáo Nguyễn Trãi cũng đã đề cao truyền thống, phong tục tính cách
niềm tự hào,tư tưởng lấy nhân dân là gốc.Nhưng chỗ độc đáo của Nguyễn
Khoa Điềm là đã thể hiện sâu đậm tâm hồn nhân dân không ở đâu khác ngoài
văn hoá dân gian. Nên “Đất Nước của Nhân dân” cũng chính là đất nước
của ca dao cổ tích. Tác giả đã sử dụng sâu rộng chất liệu của văn hoá
dân gian, từ ca dao dân ca tục ngữ, đến truyền thuyết cổ tích, các phong
tục tập quán sinh hoạt... Vì lẽ đó đoạn thơ đã đưa người đọc phiêu diêu
về thế giới nghệ thuật của nhân dân với những nét tâm hồn và tính cách
của dân tộc vốn gắn bó với máu thịt vơi smọi người. Việc sử dụng chất
liệu văn hoá dân gian ở đây không chỉ là một thủ phép trong nghệ thuật
mà đã là sự thấm nhuần quan niệm đất nước của nhân dân trong cảm hứng
sáng tạo, trong tâm hồn nhà thơ. Đó chính là thể hiện tư tưởng cốt lõi
của bài thơ trong việc lựa chọn chất liệu, thi tứ, xây dựng hình ảnh và
ngôn ngữ nghệ thuật, khi nói đến tâm hồn nhân dân trong ca dao, dân
ca...nói chung là văn hoá dân gian nhà thơ dâng trào một cảm xúc dạt
dào:
Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi
Biết quý công cầm vàng trong những ngày lặn lội
Biết trồng tre mà đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu.
Đoạn thơ Đất nước là một thành công của Nguyễn Khoa điềm góp thêm vào
thành tựu thơ ca chống Mỹ trên hướng khai thác đề tài. Đó là đất nước
của nhân dân. Quan niệm về Đất nước, nhân dân là tư tưởng chủ đạo, quán
xuyến, mở ra những khám phá sâu ,mới của nhà thơ, ngay cả những chỗ rất
quen thuộc. Quan niệm đó có cội nguồn từ văn chương truyền thống của dân
tộc. Nhưng đến thời hiện đại, qua cách nhìn và cách nghĩ của Nguyễn
Khoa Điềm tư tưởng ấy ngày càng sâu sắc và phong phú hơn.

theo Truongton.net
Về Đầu Trang Go down
Xem thêm bài khác:

Tổng hợp các đề bài Đất nước

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Trang 1 trong tổng số 1 trang
+ Viết tiếng việt có dấu để mọi người đọc được, để không bị hiểu sai ý nghĩa mình muốn diễn giải.
+ Lời lẽ phải lịch sự, không đuợc thô tục hay cải vã trong diễn đàn.
+ Nội dung bài trả lởi phải phù hợp với bài của chủ Topic, không được Spam.
+ Chia sẻ bài sưu tâm thì phải ghi rõ nguồn, để tôn trọng người viết.
+ Thực hiện những điều trên truớc khi gửi bài, là tôn trọng chính mình.

- Nếu chèn smilies vào bài viết thì bật a/A trên phải khung viết bài.

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Trường THPT Xuân Lộc :: HỌC TẬP - TRAO ĐỔI :: KHOA HỌC XÃ HỘI :: NGỮ VĂN-
Chuyển đến:
Loading...
Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Free blog
Web THPTXL