Trường THPT Xuân Lộc

Trường THPT Xuân Lộc - Đồng Nai
 
Trang ChínhTrang Chính  WebsiteWebsite  Tra CứuTra Cứu  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share|

Tổng hợp các đề bài Vợ chồng A Phủ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down
Tác giảThông điệp
ng0k_xit
Tiểu Học
Tiểu Học


Tổng số bài gửi : 6
Birthday : 10/05/1993
Cầm Tinh : Dậu
Age : 24
Ngày nhập học : 31/12/2010

Job/hobbies : doc truyen
Tài Sản Cá Nhân : Du Thuyền

Bài gửiTiêu đề: Tổng hợp các đề bài Vợ chồng A Phủ Mon May 09, 2011 5:48 pm

Vợ chồng A Phủ

[You must be registered and logged in to see this link.]
Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn "Vợ
chồng A Phủ" mà nhà văn Tô Hoài ([Only registered and activated users
can see links]) đã giành nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng. Truyện
được trích từ tập "truyện Tây Bắc" (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi
cùng bộ đội vào giải phóng miền Tây Bắc (1952), Tô Hoài đã có dịp sống,
cùng ăn, cùng ở với đồng bào các dân tộc miền núi, chính điều đó đã giúp
Tô Hoài tìm được cảm hứng để viết truyện này. Tô Hoài thành công trong
"Vợ chồng A Phủ" không chỉ do vốn sống, tình cảm sống của mình mà còn là
do tài năng nghệ thuật cùa một cây bút tài hoa. Trong "Vợ chồng A Phủ",
Tô Hoài đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, trong đó nổi bật và đáng
chú ý nhất là biện pháp phân tích tâm lý và hành động của Mị trong từng
chặng đường đời. Điểm nghệ thuật ấy thật sự phát sáng và thăng hoa
trong đoạn văn miêu tả tâm lý và hành động của nhân vật Mị trong đêm mùa
đông cứu A Phủ. Qua đó ta thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo của
tác phẩm.
Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượng nhất đó chính là hình
ảnh của cô gái "dù làm bất cứ việc gì, cô ta cũng cúi mặt, mặt buồn rười
rượi". Đó là nét tâm lý của một con người cam chịu, buông xuôi trước số
phận, hoàn cảnh sống đen tối đầy bi kịch. Sở dĩ Mị có nét tính cách ấy
là do cuộc sống hôn nhân cưỡng bức giữa Mị và A Sử. Mị không được lấy
người mình yêu mà phải ăn đời ở kiếp với một người mà mình sợ hãi, lạnh
lùng. Một nguyên nhân nữa chính là do uy quyền, thần quyền, đồng tiền
của nhà thống lý Pá Tra đã biến Mị thành một đứa con dâu gạt nợ. Mang
tiếng là con dâu của một người giàu có nhất vùng, nhưng thật sự Mị chỉ
là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Điều đó làm Mị đau khổ, Mị khóc
ròng rã mấy tháng trời và từng có ý định ăn nắm lá ngón kết thúc cuộc
đời mình. Thế nhưng "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi". Chính vì
thế Mị đã buông xuôi trước số phận đen tối của mình, trái tim của Mị dần
chai sạn và mất đi nhịp đập tự nhiên của nó.
Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng của một người yêu đời,
yêu cuộc sống, mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh sống đen tối, đầy bi kịch.
Điều đó đã được thể hiện trong đêm mùa xuân.
Trong đêm mùa xuân ấy, tâm trạng của Mị phát triển theo những cung bậc
tình cảm khác nhau, cung bậc sau cao hơn cung bậc trước. Ban đầu, Mị
nghe tiếng sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩm thầm bài hát người đang thổi rồi
Mị uống rượu và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời xa xưa... Mị ý thức được về bản
thân và về cuộc đời rồi Mị muốn đi chơi. Nhưng sợi dây thô bạo của A Sử
đã trói đứng Mị vào cột. Thế nhưng sợi dây ấy chỉ có thể "trói" được
thân xác Mị chứ không thể "trói" được tâm hồn của một cô gái đang hoà
nhập với mùa xuân, với cuộc đời. Đêm ấy thật là một đêm có ý nghĩa với
Mị. Đó là đêm cô thực sự sống cho riêng mình sau hàng ngàn đêm cô sống
vật vờ như một cái xác không hồn. Đó là một đêm cô vượt lên uy quyền và
bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái tim mình.
Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đời trâu ngựa. Thế nhưng
viết về vấn đề này, Tô Hoài khẳng định: cái khổ cái nhục mà Mị gánh chịu
như lớp tro tàn phủ khuất che lấp sức sống tiềm tàng trong lòng Mị. Và
chỉ cần có một luồng gió mạnh đủ sức thổi đi lớp tro buồn nguội lạnh ấy
thì đốm lửa ấy sẽ bùng cháy và giúp Mị vượt qua cuộc sống đen tối của
mình. Giá trị nhân đạo của tác phẩm ngời lên ở chỗ đó.
Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến. Đó chính là những đêm mùa đông dài
và buồn trên núi rừng Tây Bắc đang về. Mùa đông rét buốt như cắt da cắt
thịt, vì thế đêm nào Mị cũng ra bên ngoài bếp lửa để thổi lửa hơ tay.
Trong những đêm đó Mị gặp A Phủ đang bị trói đứng chờ chết giữa trời giá
rét. Thế nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay "dù A Phủ là cái xác
chết đứng đó cũng thế thôi". Tại sao Mị lại lãnh cảm, thờ ơ trước sự
việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chết là một việc làm bình thường
ở nhà thống lý Pá Tra và ai cũng quen với điều đó nên chẳng ai quan tâm
đến. Hay bởi Mị "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" nên Mị lãnh
đạm, thờ ơ trước nỗi đau khổ của người khác. Một đêm nữa lại đến, lúc đó
mọi người trong nhà đã ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt lửa
lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, "Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ
cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen
lại". Đó là dòng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết
đến rất gần. Chính "dòng nước mắt lấp lánh ấy" đã làm tan chảy lớp băng
giá lạnh trong lòng Mị. Lòng Mị chợt bồi hồi trước một người, trùng
cảnh ngộ. Đêm mùa xuân trước Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều
lần khóc nước mắt rơi xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được. Mị
chợt nhận ra người ấy giống mình về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh
ngộ rất dễ cảm thông cho nhau. Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp
lúc trước kia, “chúng nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở
trong cài nhà này”. Lí trí giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác”. Việc
trói người đến chết còn các hơn cả thú dữ trong rừng. Chỉ vì bị hổ ăn
mất một con bò mà một người thanh niên khoẻ mạnh, siêng năng, say sưa
với cuộc đời đã phải lấy mạng mình thay cho nó. Bọn thống trị coi sinh
mạng của A Phủ không bằng một con vật. Và dẫu ai phạm tội như A Phủ cũng
bị xử phạt như thế mà thôi. Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với
hiện tại, Mị đau khổ cay dắng cho thân phận của mình: “Ta là thân đàn
bà chúng nó đẵ bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết chờ ngày
rũ xương ở đây thôi”. Nghĩ về mình, Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này
chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải
chết. Người kia việc gì mà phải chết như thế. A Phủ…. Mị phảng phất nghĩ
như vậy”. Thật sự, chẳng có lí do gì mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ
phải chết vì cái tội để mất một con bò! Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến
cảnh A Phủ bỏ trốn và chính Mị sẽ là người chết thay cho A Phủ trên cái
cột tưởng tượng đó. Thế nhưng, Mị vẫn không thấy sợ, sự suy tưởng của
Mị là có cơ sở của nó. Cha con Pá Tra đã biến Mị từ một con người yêu
đời, yêu cuộc sống, tài hoa chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết với tình yêu
thành một con dâu gạt nợ, một kẻ nô lệ đúng nghĩa, chúng đã tàn ác khi
trói một người đàn bà ngày trước đến chết thì chẳng lẽ chúng lại không
đối xử với Mị như thế ư? Như vậy, chứng kiến “dòng nước mắt lấp lánh”
của A Phủ, tâm trạng của Mị diễn biến phức tạp. Mị thông cảm với người
cùng cảnh ngộ, Mị nhớ đến chuyện người đàn bà ngày trước, lí trí giúp Mị
nhận ra bọn lãnh chúa phong kiến thật độc ác, Mị xót xa trước số phận
của mình rồi Mị lại nghĩ đến A Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng đến cái
cảnh mình bị trói đứng… Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến với hành
động: dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi trói cho A Phủ. Đó là một việc
làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp với nét tâm lí của Mị
trong đêm mùa đông này. Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng
không ngờ mình dám làm một chuyện động trời đến vậy. Mị thì thào lên một
tiếng “đi ngay” rồi Mị nghẹn lại. A Phủ vùng chạy đi còn Mị vẫn đứng
lặng trong bóng tối. Ta có thể hình dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm
mối của Mị lúc này. Lòng Mị rối bời với trăm câu hỏi: Vụt chạy theo A
Phủ hay ở đây chờ chết?. Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đã thôi
thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm nhưng Mị vẫn
băng đi. Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lãnh
chúa phong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu năm qua.
Mị đuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên. Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu
năm câm nín: “A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất”. Đó là lời nói khao
khát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị. Câu nói ấy chứa đựng biết
bao tình cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc. Đó chính là nguyên nhân -
hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi dây vô hình ràng buộc cuộc đời của mình.
Thế là Mị và A Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi. Hai người đã rời bỏ
Hồng Ngài - một nơi mà những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, còn nỗi buồn
đau, tủi nhục thì chồng chất không sao kể xiết. Hai người rời bỏ Hồng
Ngài và đến Phiềng Sa, nhưng những ngày phía trước ra sao họ cũng chưa
biết đến…
Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai trò hết
sức quan trọng. Chính nó đã giúp Mị vượt lên trên số phận đen tối của
mình. Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân mình.
Qua đoạn trích trên, Tô Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của
người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụ nự Việt Nam nói
chung. Tô Hoài đã rất cảm thông và xót thương cho số phận hẩm hiu, không
lối thoát của Mị. Thế nhưng bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu
thương, Tô Hoài đã phát hiện và ngợi ca đốm lửa còn sót lại trong trái
tim Mị. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó. Đồng thời qua tác
phẩm, Tô Hoài cũng đã khẳng định được chân lí muôn đời: ở đâu có áp bức
bất công thì ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng lên
một cách tự phát như Mị. Quả thật qua đó tác phẩm này giúp ta hiểu được
nhiều điều trong cuộc sống.
Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập “Truyện Tây Bắc” nói
chung, ta hiểu vì sao Tô Hoài lại thành công trong thể loại truyện ngắn
đến như vậy. Nét phong cách nghệ thuật: màu sắc dân tộc đậm đà chất thơ
chất trữ tình thấm đượm, ngôn ngữ lời văn giàu tính tạo hình đã hội tụ
và phát sáng trong truyện ngắn này. Tác phẩm “Truyện Tây Bắc” xứng đáng
với giải nhất truyện ngắn - giải thưởng do Hội nghệ sĩ Việt Nam trao
tặng năm 1954 - 1955. Và “Vợ chồng A Phủ” thực sự để lại ấn tượng tốt
đẹp trong lòng bạn đọc bởi những giá trị nghệ thuật, giá trị hiện thực
và giá trị nhân đạo của nó. Truyện ngắn này quả là một truyện ngắn tiêu
biểu cho phong cách Tô Hoài.
Đối với riêng em, truyện “Vợ chồng A Phủ” giúp em cảm thông sâu sắc
trước nỗi khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến miền núi, từ đó
giúp em ngày càng trân trọng khát vọng của họ hơn. Đây quả là một tác
phẩm văn chương đích thực bởi nó đã góp phần nhân đạo hoá tâm hồn bạn
đọc như Nam Cao đã quan niệm trong truyện ngắn “Đời thừa”

Giá trị hiện thực va nhan dao. Cua? Vo.chong a phu?
1.Giá trị hiện thực:
a.Phản ánh nỗi khổ của nhân dân miền núi và lên án chế độ phong kiến thực dân:
+Mị là cô gái trẻ, đẹp đang ở lứa tuổi thanh xuân, yêu đời. Nhưng Mị dã
trở thành một món hàng trừ nợ. Cha mẹ Mị không có tiền cưới phải đến vay
nhà thống lí Pá Tra, mỗi năm trả lãi một nương ngô. Đến khi mẹ mất, cha
già mà nợ vẫn còn, Mị cướp về làm dâu để trừ nợ. Điều này đã tố cáo
hình thức bóc lột của bọn phong kiến là cho vay nặng lãi để cột chặt
kiếp nô lệ của người dân miền núi. Mặt khác, tác phẩm còn cho thấy món
nợ Mị phải trả như một cái án truyền kiếp mà cô phải gánh lấy từ trong
trứng nước. Hơn nữa, cuộc đờ nô lệ của MỊ bị bọn thốn trị ràng buộc, áp
chế bởi sự mê tín, thần quyền (Mị nghĩ rằng bố con Pá Tra đã “trình ma”
mình là người của nhà nó thì chỉ còn biết ơởđây cho tới lúc chết mà
thôi).
+Chưa hết, về nàh thống lí Pá Tra, Mị còn bị đày đoạ về thể xác lẫn tinh
thần. Danh nghĩa là con dâu nhưng thực chất chỉ là tôi tớ. Thân Mị,
cũng như nhiều phụ nữ khác, không bằng thân trâu, ngựa: Con trâu, con
ngựa làm có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con
gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.
+Điều mà nhà vưn xót xa hơn là nỗi khổ tinh thần của Mị. Mị không biết
đến hạnh phúc, không được hưởng một niềm vui, không hề nghĩ đến tương
lai. Dần dần, Mị trở thành người buông xuôi theo số phận, vô thức về
thời gian, không biết làm dâu năm nào, vô thức về không gian qua chi
tiết căn buồng Mị nằm kín mít với cửa sổ một lỗ vuông bằng tay lúc nào
cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là suơng hay la nắng. Căn buồng ấy
là biểu tượng hiện tại và tương lai của Mị. Nó không giam hãm thân xác
Mị nhưng cách ly tâm hồn với cuộc đời, nó giam hãm tuổi thanh xuân và
sức sống của cô.
- A Phủ
+Cũng như Mị, cuôc jđời A Phủ tiêu biểu cho nỗi khổ của người dân người
dân miền núi. Đánh A Sử, con thống lí, A Phủ bị trói, bị đánh, bị phạt
vạ 100 đồng. Không có tiền, anh phải ở cho nhà thống lí trừ nợ. Từ đó, A
Phủ mang cái nợ truyền kiếp: Mày không có trăm bạc thì tao cho mày vay
để mày ở nợ. Bao giờ có tiền giả thì tao cho mày về, chưa có tiền trả
thì tao bắt mày ở làm con trâu, con ngựa cho nhà tao. Đời mày, đời con
mày, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi.
+Đi ở trừ nợ cho nhà thống lí Pá Tra, A Phủ phải làm quần quật ở bìa
rừng. Đến khi làm mất một con bò, anh bị trói, bị đánh, bị bỏ đói, bỏ
khát máy ngày liền chờ chết. Hình phạt bọn chúng đối với A Phủ chẳng
khác gì những hình phạt thời trung cổ: A Phủ lẳng lặng ra vác cái cọc gỗ
rồi lấy cuộc dây mây trên gác bếp xuống. Tự tay A Phủ đóng cọc gỗ xuống
bên cột. Pá Trá vẫn đứng đấy, bấy giờ đẩy A Phủ vào chân cột, hai bàn
tay bắt ôm quặt lên. Rồi dây mây quấn từ chân lên vai, chỉ còn cái cổ và
đầu hơi lúc lắc được. Đàn bà trong nhà, mỗi khiqua đều cúi mặt. Không
một ai dám hỏi, cũng không ai dám nhìn ngang mặt.
+Cũng như Mị, A Phủ không chỉ khổ về thể xác mà còn khổ về tinh thần.
Nếu nhu Mị tê liệt sức phản kháng khi ở lâu trong cái khổ thì A Phủ cũng
vậy. Từ một chàng trai bướng bỉnh không chịu khuất phục, anh đã trở
thành một con người chịu đựng. Anh nhu con trâu đã đóng lên tròng, chủ
bảo sao làm vậy.
b.Vợ chồng A Phủ phản ánh những quy luật của xã hội:

- Tô Hoài có cái nhìn biện chứng về quan hệ giữa hoàn cảnh và tính cách.
Bị đày ải lâu ngày trong một thế giới không có nhân tính, không có tình
người, cả Mị lẫn A Phủ đều trở thành những con người an phận, thiếu ý
thức đấu tranh, thậm chí lạnh lùng, vô cảm.
- Nhưng tác phẩm cũng cho thấy khi bị ức hiếp, bị đẩy đến đường cùng,
người luơng thiện sẽ vùng dậy tự giải phóng mình. Tác phẩm còn cho thấy
tình hữu ái giai cấp sẽ tạo sức mạnh để họ tự giải thoát. Khi chưa đến
với nhau, Mị và A Phủ là hai thực thể cô đơn, cô độc. Hành động Mị và A
Phủ trốn khỏi Hồng Ngài là biểu hiện đấu tranh tự phát.
- Điểm mới mẻ của Tô Hoài là nhà văn đã nắm bắt và miêu tả hiện thực
trong xu thế của cách mạng. Mị và A Phủ đã tự giải thoát mình nhưng nếu
chỉ dừng lại ở đây, Mị và A Phủ vẫn chưa được thực sự tự do, hạnh phúc.
Đến phần hai của tác phẩm, Mị và A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài đến Phiếng
Sa, họ lại bị đàn áp bởi thế lực của thực dân. Chỉ khi gặp A Châu, một
cán bộ Đảng, Mị và A Phủ giác ngộ cùng nhân dân Phiềng Sa lập đội du
kích. từ đó họ mới tìm thấy một hướng đi cho tương lai tốt đẹp. Như vậy,
con đường đấu tranh từ tự phát đến tự giác chống thực dân phong kiến
dưới sự dìu dắt của Đảng là con đường tất yếu, lịch sử, để nhân dân các
dân tộc thiêểusố miền núi thoát khỏi ách nô lệ, vươn tới cuộc sống độc
lập tự do.
2.Giá trị nhân đạo
a.Tô Hoài đã có cái nhìn nhân văn thiên nhiên và con người Tây Bắc
Rừng núi và người dân tộc thiểu số tự bao đời trong ấn tượng của mọi
người là mảnh đất thiêng nước độc, cuộc sống tăm tối, ngu muội. Nhưng
trong con mắt nhà văn đó là miền đất thơ mộng, hùng vĩ với mùa xuân đẹp,
gợi cảm. Tiếng hát, tiếng sáo ngây ngất trong lòng người. Con người Tây
Bắc đẹp về nhiều phương diệnm từ ngoại hình đến tâm hồn và năng lực lao
động.
b.Lòng thương cảm:
Bên cạnh việc ca ngợi, tô Hoài đã biể lộ tấm lòng thương cảm sâu sắc vơi
người dân miền núi khi ông dựng lại nỗi đau khổ tủi nhục của Mị và A
Phủ. Những đoạn độc thoại nội tâm của Mị khiến ta cảm tưởng như tác giả
đang nhập vào tâm trạng nhân vật để nói lên nỗi lòng vừa đau đớn, vừa
thiết tha của cô. Không có lòng yêu thương thì không có những trang văn
làm xúc động lòng người đến vậy. Càng yêu thương, trân trọng cion người
biết bao nhiêu thì nhà văn càng lên án gay gắt những thế lực chà đạp
quyền sống con người bấy nhiêu. Do đó, Vợ chồng A Phủ là bài ca ca ngợi
con người, nhưng đồng thời cũng là bản án đanh thép kết tội những ai lợi
dụng thần quyền, cường quyền, lợi dụng hủ tục mê tín… để biến con người
thành nô lệ.
c.Đề cao con người:
Trong vợ chồng A Phủ, Tô Hoài thể hiện cái nhìn trân trọng đối với con
người. Nhà văn đã khắc hoạ sức sống bên trong của những con người thấp
cổ bé họng và đặt trọn niềm tin yêu vào đó.
Đi sâu vào tận cùng yư thức của nhân vật, tác giả đã phát hiện niềm khao
khát sống của họ. Tuy phải âm thầm chịu đựng cuộc sống đày đoạ nhưng
không phải vì thế mà Mị và A phủ đánh mất sức sống. Nhà văn Tô Hoài đã
khiến chúng ta thêm tin yêu vài bản chất tốt đẹp của con người.
d.Tìm đường đi cho nhân vật
Điểm mới mẻ và sâu sắc của tư tưởng nhân đạo ở Vợ chồng A Phủ là tác giả
đã để nhân vật tìm ra con đường giải phóng thật sự, thể hiện ước vọng
chân chính của mình trong quá trình đến với cách mạng. Mị dần dần không
sợ con mà nhà A Sử, biết ngẩng đầu tham gia du kích. A Phủ trở thành đội
trưởng đội du kích cùng nhân dân bảo vệ quê hương. Sự đổi đời của nhân
vật Mị và A Phủ chính là giảtị nhân đạo cao nhất trong tác phẩm.


Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài
“Vợ chồng A Phủ” là truyên thành công nhất trong tập “Truyện Tây Bắc”
của Tô Hoài. Trong truyện này, nhân vật Mỵ có hồn hơn cả. Mị có hai mặt
tưởng như đối lập nhưng thực ra lại rất thống nhất. Mặt thứ nhất là Mỵ
bị chà đạp nặng nề đã sinh ra buồn rầu và dần dần sinh ra cam chịu, mất
cả sức sống. Mặt thứ hai là ngay trong tình trạng đó, Mỵ vẫn cựa quậy,
vẫn tiềm tàng, tiềm ẩn một sức sống để từ đó bước vươn dậy và cuối cùng
phá cũi tháo lồng và tìm lại được lẽ sống cho mình.
Mị bị bắt làm con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá-Tra là tấn bi kịch đau đớn
nhất trong cuộc đời nàng. A Sử đối với nàng như đối với một người nô lệ.
Nhưng vì nàng là ngươi con gái giàu tình thương, có đức hi sinh nên
nàng đành cam chịu để trừ nợ cho cha. Ở lâu trong cái khổ, Mỵ quen khổ
rồi. Bây giờ Mỵ tưởng mình cũng là con trâu con ngựa. “Con ngựa, con
trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà
con gái nhà này thì vùi vào công việc cả đêm cả ngày ”. Quá đau khổ,
nàng đã phản kháng bỏ nhà Pá Tra trở về. Nàng định lạy cha rồi ăn lá
ngón chết. Nhưng khi nghe cha nói: “Mày về lạy tao để mày đi chết đấy à?
Mày chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ… Không được con
ơi!”. Mị bưng mặt khóc, ném nắm lá ngón rồi trở về nhà Pá Tra. Vì quá
thương cha mà nàng đành cam chịu cuộc sống nô lệ ở nhà thống lí.
Nhưng trong tâm trạng, trong bản chất cuộc sống của Mị tiềm ẩn một sức
sống mãnh liệt. Trong nỗi buồn, trong suy nghĩ, trong ý muốn tự tử của
nàng đã biểu lộ tinh thần không muốn cam chịu, không muốn chấp nhận cuộc
sống lầm than, tủi cực hiện tại. Sức sống bị đè nén chỉ cần có cơ hội
là nó sẽ bộc phát. Những đêm tình mùa xuân đã tới, tâm hồn Mị bị xáo
trộn. Nàng đã lắng nghe tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng
sáo vọng lại, tha thiết bổi hổi. Mị ngồi nhẩm bài hát của người đang
thổi:
“Mày có con trai con gái rồi
Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gá
Ta đi tìm người yêu”
Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi
đấy hồi tưởng lại ngày trước. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi, thổi lá cũng
hay như thổi sáo. Mùa xuân, Mị uống rượu trên bếp và thổi sáo. Có biết
bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị hết núi này sang núi
khác. Sức sống lại dạt dào trong lòng nàng. “Mị thấy phơi phới trở lại,
trong lòng độy nhiên vui sướng như đêm tết ngày trước. Mị trẻ lắm, Mị
vẫn còn trẻ, Mị muốn đi chơi.” Tiếng sáo còn rập rờn trong đầu Mị, Mị
quấn lại tóc, Mị mặc váy hoa. Ai bảo cô Mị chỉ lùi lũi như con rùa nuôi
trong xó cửa? Dĩ nhiên tuổi xuân của nàng đã bị tàn phá. Sức sống của
nàng đã bị đè nén. A Sử trói Mị lại, quấn tóc lên cột. Đóng cửa buồng
rồi bỏ đi. Thật là tàn bạo, Mị vẫn đứng im như không biết mình đang bị
trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những
cuộc chơi.
“Em không yêu, quả pao rơi rồi
Em yêu người nào, em bắt pao nào”
Mị vùng vằng bước đi nhưng toàn thân đau nhức không cựa được. Sức sống tiềm tàng trong người Mị bộc phát thật là dữ dội.
Sức sống tiềm ẩn của Mị bộc lộ tột đỉnh trong hành vi nổi loạn giải
thoát cho A Phủ và cho chính mình. A Phủ là người ở trừ nợ (vì đánh A Sử
nên bị phạt vạ) trong nhà thống lí. A Phủ chăn bò bị hổ ăn mất một con.
A Phủ bị trói. Đêm đêm, Mị dậy sưởi lửa thấy mắt A Phủ trừng trừng,
biết A Phủ còn sống, Mị vẫn lạnh lùng vì đời Mị khổ quá, Mị chỉ còn ở
với ngọn lửa. Có đêm A Sử thấy Mị ở đây đã đập Mị ngã xuống cửa bếp
nhưng trái tim của cô gái giàu yêu thương ấy lại thổn thức. Đêm khuya Mị
trở dậy thổi lửa, ngọn lửa bập bùng sáng lên. Cách miêu tả sức sống
tiềm tàng đang trỗi dậy trong lòng Mị bằng “ngọn lửa bập bùng sáng lên”
thật là hay! Nàng nhìn thấy A Phủ bị trói đứng, một dòng nước mắt lấp
lánh bò xuống hai lõm má đã sạm đen lại. Mị nhớ lại đêm A Sử trói Mị,
nàng thốt lên trong lòng “Trời ơi! Nó bắt trói đứng người ta đến chết!
Nó đã trói chết một người đàn bà trong nhà ngày trước cũng ở chỗ này”.
Nàng nghĩ đêm mai là người kia chết. Người kia việc gì mà phải chết. Rồi
nàng vận vào mình, biết đâu A Phủ trốn thoát, bố con Pá Tra sẽ bảo là
Mị cởi trói cho nó. Mị phải trói thay vào đó, Mị phải chết trên cái cọc
ấy, Mị không thấy sợ. Đấy chỉ là những tư tưởng “nổi loạn” trong lòng Mị
và từ tư tưởng “nổi loạn” đến hành động “nổi loạn” chỉ có một li. Mị đã
rón rén bước lại gần A Phủ. Nàng rút con dao nhỏ cắt lúa cắt nút dây
mây trói A Phủ. Mị thì thào: “Đi ngay…!”. Mị cắt sợi dây trói A Phủ cũng
chính là nàng đã cắt sợi dây vô hình trói nàng vào gia đình thống lí Pá
Tra. Nàng đã chạy theo A Phủ, A Phủ nói: “Đi với tôi” và hai người lẳng
lặng đỡ nhau chạy xuống dốc núi. Hình ảnh đó nói lên sự can đảm liều
lĩnh của Mị. Hành động táo bạo này có ý nghĩa quyết định trong cuộc đời
Mị. Mị và A Phủ đã nương tựa vào nhau và thành vợ chồng A Phủ để xây
dựng cuộc đời mới. Hành động giải thoát của Mị có xen lẫn ý thức tự phát
và tự giác. Có lẽ ý thức tự phát mạnh hơn. Đó chính là kết quả biểu lộ
tất yếu của một sức sống vốn đã tiềm tàng, tiềm ẩn của Mị trước đó. Hành
động giải phóng và tự giải phóng này của Mị có nguồn gốc từ cái buồn
rười rượi, từ cái cách uống ừng ực từng bát rượu và ngay cả ý định muốn
tự sát của Mị.
Nguồn gốc sâu xa của hành vi đó là ở tấm lòng giàu tình cảm, giàu lòng
thương người của Mị, còn nguyên do trực tiếp là tiếng sáo của những đêm
tình mùa xuân đã thức dậy trong tâm hồn nàng lòng yêu đời, niềm tha
thiết với cuộc sống tự do.
Có thể nói sức sống tiềm tàng của Mị là sức hấp dẫn của nhân vật này
trong thời gian Mị ở Hồng Ngài. Tô Hoài đã đặt Mị trong mối xung đột xã
hội gay gắt, những thế lực tàn bạo của xã hội phong kiến thống trị cũa
người H-mông đã chà đạp lên số phận của nàng, tưởng như nàng không còn
con đường nào thoát khỏi sự huỷ diệt. Vậy mà chính sức sống tiềm ẩn của
nàng đã tự cứu nàng. Tô Hoài đã miêu tả một cách xuất sắc sự vận động
nội tâm của nhân vật và dẫn đến hành động phản kháng tháo cũi phá lồng
giải thoát. Chính sức sống mãnh liệt của Mị khi gặp ánh sáng cách mạng
thì như hạt giống tốt gieo lên mảnh đất phù sa. Mị đã trở thành nhân tố
tích cực trong đội du kích Phiềng Sa của A Phủ sau này cũng là điều dễ
hiểu.

theo Truongton.net
Về Đầu Trang Go down
Xem thêm bài khác:

Tổng hợp các đề bài Vợ chồng A Phủ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Trang 1 trong tổng số 1 trang
+ Viết tiếng việt có dấu để mọi người đọc được, để không bị hiểu sai ý nghĩa mình muốn diễn giải.
+ Lời lẽ phải lịch sự, không đuợc thô tục hay cải vã trong diễn đàn.
+ Nội dung bài trả lởi phải phù hợp với bài của chủ Topic, không được Spam.
+ Chia sẻ bài sưu tâm thì phải ghi rõ nguồn, để tôn trọng người viết.
+ Thực hiện những điều trên truớc khi gửi bài, là tôn trọng chính mình.

- Nếu chèn smilies vào bài viết thì bật a/A trên phải khung viết bài.

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Trường THPT Xuân Lộc :: HỌC TẬP - TRAO ĐỔI :: KHOA HỌC XÃ HỘI :: NGỮ VĂN-
Chuyển đến:
Loading...
Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | www.sosblogs.com
Web THPTXL